Muốn đoán một mảng chạm thuộc thời nào, hãy nhìn con rồng trước, rồi tới độ sâu của nhát đục và chất liệu. Rồng thời Lý mảnh, tròn mình, uốn khúc đều như hình sin; rồng Trần mập khoẻ hơn; rồng Lê sơ uy nghi, quy phạm; thời Mạc và thế kỷ 17 tràn ngập cảnh người đời thường; thời Nguyễn tinh xảo, dày hoa lá và khảm thếp. Đó là xu hướng chung để tập mắt, không phải công thức chắc chắn trăm phần trăm.
Vì sao nhận phong cách khó hơn ta tưởng
Người mới đi chùa hay nghe "cái này thời Lý", "cái kia thời Lê" và tưởng có một bảng tra rõ ràng. Thực tế phức tạp hơn nhiều, vì ba lẽ.
- Gỗ không sống lâu. Ở xứ nóng ẩm, mối mọt và nồm ẩm ăn gỗ trong vài trăm năm. Chạm gỗ thời Lý gần như không còn; những gì ta biết về mỹ thuật Lý chủ yếu qua đá và đất nung. Chạm gỗ thời Trần còn rất ít. Phần lớn chạm gỗ đình chùa ta xem hôm nay là từ thế kỷ 16 trở về sau.
- Công trình được tu sửa nhiều lần. Một ngôi đình thế kỷ 17 có thể đã thay cột, thay cốn ở thế kỷ 19, rồi thay tiếp ở thế kỷ 20. Trong cùng một toà nhà có thể có mảng chạm cách nhau hai, ba trăm năm.
- Thợ đời sau chép thợ đời trước. Khi tu bổ, thợ giỏi thường đục lại theo mẫu cũ. Đồ phỏng cổ ngày nay cũng chép dáng rồng Lý, rồng Mạc rất khéo.
Vì vậy các nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ như Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ đều định niên đại bằng cách ghép nhiều loại chứng cứ: dòng chữ ghi năm trên xà, câu đầu hay bia; phong cách tạo hình; cấu trúc kiến trúc; và tư liệu của làng. Phong cách chỉ là một mảnh của bức ghép.
Lý, Trần, Lê sơ: từ mềm mại đến uy nghi
Thời Lý (1009–1225): nét mềm, nhịp đều, nhiều lá đề
Dấu hiệu dễ nhận nhất của mỹ thuật Lý là con rồng thân tròn, thon dài, uốn khúc đều nhịp, nhỏ dần về đuôi, nhìn như một dải lụa lượn sóng. Đầu rồng có mào lửa lớn vươn ra trước mũi, bờm dài bay về sau, thường không thấy sừng. Nhiều nhà nghiên cứu gọi đây là kiểu "rồng hình sin" và coi nó là con rồng "rất Việt", khác hẳn rồng Trung Hoa cùng thời.
Điêu khắc Lý thích lá đề (hình lá cây bồ đề, đầu nhọn) làm khung, trong lá đề là rồng chầu hoặc hoa dây. Bệ tượng, chân tảng cột thường chạm cánh sen mập, cánh nọ đè cánh kia. Nhát chạm nông, mịn, nét liền, ít góc gãy.
Nơi xem: tượng A Di Đà và hàng thú đá chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chân tảng và thành bậc đá ở một số chùa Lý, các mảnh đất nung trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Hoàng thành Thăng Long.
Thời Trần (1226–1400): khoẻ khoắn, thực hơn
Rồng thời Trần vẫn giữ dáng uốn lượn nhưng mập khoẻ hơn, thân to, vảy rõ, có sừng, chân có móng sắc, đuôi thường nhọn. Cảm giác chung là bớt mềm mại, thêm sức mạnh — hợp với một triều đại ba lần đánh lui quân Nguyên.
Đây là thời mà ta bắt đầu còn chạm gỗ thật để xem. Các cốn gỗ ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên) thường được xếp vào thế kỷ 14, với tiên nữ dâng hoa, nhạc công, rồng, hoa lá; nét chạm chắc, khối tròn đầy. Bệ đá, tượng thú đá ở khu lăng mộ và tháp Phổ Minh (Nam Định cũ, nay thuộc Ninh Bình) cũng cho thấy tinh thần ấy.
Thời Lê sơ (1428–1527): uy nghi, quy phạm
Nhà Lê sơ đề cao Nho giáo và trật tự triều đình. Nghệ thuật cung đình thời này nghiêm, cân đối. Rồng Lê sơ đầu to, mắt dữ, miệng há, thân lớn uốn ít khúc hơn, xung quanh là mây lửa; rồng của vua có năm móng.
Đề tài dân gian vắng mặt ở công trình chính thức. Nơi xem tiêu biểu là khu di tích Lam Kinh (Thanh Hoá): rồng đá ở bậc thềm điện, bia đá đội trên lưng rùa với diềm chạm rồng mây. Chạm gỗ Lê sơ còn lại rất hiếm.
Thời Mạc (1527–1592) và Lê Trung hưng (thế kỷ 17–18): cửa mở cho đời thường
Đây là bước ngoặt lớn nhất. Khi quyền lực trung ương lỏng ra, làng xã giàu lên và dựng đình. Thợ làng được tự do hơn, và lần đầu tiên người thường bước lên vì kèo: người cưỡi ngựa, người chèo thuyền, đôi trai gái, người uống rượu, người đấu vật.
Dấu hiệu thời Mạc
- Khối chạm to, dứt khoát, ít chi tiết vụn; hình người mập, chân tay to, dáng mộc mạc.
- Kỹ thuật chạm bong (hình nổi tách hẳn khỏi nền) xuất hiện nhiều, nhưng các lớp còn ít.
- Rồng vẫn còn dáng thân dài uốn lượn, nhưng đã có những con rồng lẫn vào mây lá, hoá thành hoa văn.
Dấu hiệu thế kỷ 17
- Chạm nhiều lớp, sâu, bố cục dày đặc, gần như không chừa nền trống.
- Đề tài dân gian phong phú nhất; rồng ổ (rồng mẹ ôm rồng con), tiên cưỡi rồng, người cưỡi lân.
- Các chùa lớn có tượng gỗ tuyệt tác: Quan Âm nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp tạc năm 1656.
Dấu hiệu thế kỷ 18
- Chạm tinh, mảnh, cầu kỳ; chạm lộng thủng nhiều tầng.
- Đề tài nghiêng về rồng mây, tứ linh, hoa lá; cảnh đời thường thưa dần.
- Tượng chùa đạt độ biểu cảm cao, như bộ La Hán chùa Tây Phương mà nhiều nhà nghiên cứu xếp vào thế kỷ này.
Thời Nguyễn (1802–1945): tinh xảo và khảm thếp
Thời Nguyễn để lại khối lượng chạm khắc lớn nhất, vì gần ta nhất. Rồng Nguyễn thường thân ngắn hơn, uốn ít khúc, mắt lồi, râu và vây tua tủa, nhiều khi uốn quanh chữ Thọ hay ôm hạt châu. Đồ chạm thường đi cùng sơn son thếp vàng, khảm xà cừ, và những đề tài "bát bửu" (tám món đồ quý), tứ quý (mai, lan, cúc, trúc), chữ Thọ, chữ Phúc cách điệu.
Ở Huế, chạm khắc gỗ nhà rường, cung điện và lăng tẩm có lối "nhất thi nhất hoạ" — một ô thơ, một ô tranh xen kẽ. Ở đồng bằng Bắc Bộ, nhiều đình được trùng tu thời Nguyễn nên mảng chạm thế kỷ 19 nằm cạnh mảng chạm thế kỷ 17 ngay trong cùng một gian.
Bảng tập mắt nhanh
| Thời | Con rồng (xu hướng chung) | Nhát chạm | Chất liệu còn lại nhiều |
|---|---|---|---|
| Lý | Thân tròn thon, uốn khúc đều, mào lửa trước mũi, thường không sừng | Nông, mịn, nét liền | Đá, đất nung |
| Trần | Mập khoẻ, có sừng, vảy rõ, móng sắc | Chắc, khối tròn đầy | Đá, đất nung, ít gỗ |
| Lê sơ | Đầu to, mắt dữ, uy nghi, mây lửa | Cân đối, quy phạm | Đá (Lam Kinh) |
| Mạc | Dân dã, lẫn vào mây lá | Khối to, dứt khoát, chạm bong | Gỗ đình, bia đá |
| Thế kỷ 17 | Rồng ổ, rồng có người cưỡi | Nhiều lớp, sâu, dày đặc | Gỗ đình, tượng chùa |
| Thế kỷ 18 | Rồng mây, tứ linh | Tinh, mảnh, chạm lộng | Gỗ, tượng chùa |
| Nguyễn | Thân ngắn, mắt lồi, vây tua tủa, ôm chữ Thọ | Rất tinh, khảm, thếp | Gỗ, đá, sành sứ khảm |
Ba bẫy thường gặp khi đoán niên đại
- Tin vào một dòng can chi đơn lẻ. Năm can chi (Giáp Tý, Ất Sửu…) lặp lại sau 60 năm. Một dòng "năm Bính Thân" không kèm niên hiệu vua có thể là 1656, 1716, 1776 hay 1836. Chỉ khi có niên hiệu (Sùng Khang, Cảnh Hưng, Minh Mạng…) mới khoá được năm.
- Lấy một mảng đại diện cho cả công trình. Nhìn một cốn đẹp thế kỷ 17 rồi kết luận cả ngôi đình thế kỷ 17 là bỏ qua những lần thay thế. Hãy so màu gỗ, độ mòn, vết mộng: mảng thay sau thường sắc cạnh hơn, màu khác, mộng không khớp hẳn với cấu kiện cũ.
- Nhầm đồ phỏng cổ. Đồ chạm mới chép rồng Lý thường có nét quá đều, các khúc giống nhau như đúc, lại thiếu độ mòn tự nhiên ở chỗ tay người hay chạm. Đồ cổ thật mòn không đều: chỗ nhô cao mòn nhiều, kẽ sâu còn sắc.
Góc nhìn hôm nay: tập mắt bằng một vòng đi xem
Không có cách học nào nhanh bằng đứng trước hiện vật thật. Một lộ trình gợi ý để nhìn liền mạch từ Lý tới Nguyễn:
- Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Hà Nội): phòng Lý – Trần có đá chạm và đất nung, thấy rõ con rồng hình sin.
- Chùa Phật Tích (Bắc Ninh): tượng A Di Đà và hàng thú đá thời Lý.
- Một ngôi đình thời Mạc hoặc thế kỷ 17 như Lỗ Hạnh, Tây Đằng, Thổ Hà: xem cảnh người trên đầu dư, cốn.
- Chùa Bút Tháp, chùa Tây Phương: tượng gỗ thế kỷ 17–18.
- Huế: nhà rường, cung điện để thấy lối chạm Nguyễn.
Mang theo đèn pin nhỏ và chiếu xiên từ một bên: ánh sáng xiên làm nổi độ sâu lớp chạm, giúp phân biệt chạm nông thời Lý với chạm nhiều lớp thế kỷ 17 rõ hơn hẳn đèn rọi thẳng. Chụp con rồng ở mỗi nơi cùng một góc, về đặt cạnh nhau — sau ba bốn chuyến, mắt bạn sẽ tự nhận ra nhịp uốn khúc khác nhau giữa các thời.
Sách nên đọc: các công trình của Trần Lâm Biền về mỹ thuật cổ truyền và đình chùa, của Chu Quang Trứ về mỹ thuật Lý – Trần và tượng cổ, của Nguyễn Du Chi về hoa văn Việt Nam qua các thời.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao nhận ra rồng thời Lý?
Rồng thời Lý có thân tròn, thon dài, uốn nhiều khúc đều nhịp như hình sin, nhỏ dần về đuôi. Đầu có mào lửa lớn trước mũi, bờm bay dài, thường không thấy sừng. Rồng Lý hay nằm trong khung lá đề và chủ yếu còn lại trên đá, đất nung.
Rồng thời Lý và rồng thời Nguyễn khác nhau thế nào?
Rồng Lý mảnh, mềm, uốn nhiều khúc đều. Rồng Nguyễn thân ngắn hơn, uốn ít khúc, mắt lồi, râu vây tua tủa, nhiều khi uốn quanh chữ Thọ hay hạt châu, và thường đi cùng sơn son thếp vàng. Cảm giác một bên là dải lụa, một bên là trang trí dày đặc.
Vì sao ít còn chạm khắc gỗ thời Lý, Trần?
Khí hậu nóng ẩm, mối mọt và chiến tranh, hoả hoạn làm gỗ khó tồn tại quá vài trăm năm. Hầu như không còn chạm gỗ thời Lý; thời Trần còn một số mảng ở vài ngôi chùa như Thái Lạc. Hiểu biết về mỹ thuật Lý chủ yếu dựa vào đá và đất nung.
Chạm khắc đình làng đẹp nhất vào thời nào?
Các nhà nghiên cứu thường coi thời Mạc (thế kỷ 16) và thế kỷ 17 là đỉnh cao của chạm khắc đình làng, với nhiều cảnh sinh hoạt dân gian và chạm nhiều lớp. Sang thế kỷ 18 chạm tinh xảo hơn nhưng đề tài đời thường thưa dần.
Chỉ nhìn phong cách có đoán đúng niên đại không?
Không chắc. Công trình cổ thường được tu sửa, thay mảng nhiều lần, và thợ sau hay chép mẫu thợ trước. Nhà nghiên cứu luôn ghép phong cách với dòng chữ ghi niên hiệu, cấu trúc kiến trúc và tư liệu của làng. Phong cách giúp khoanh vùng, không thay được chứng cứ ghi năm.