Chạm khắc gỗ là cách tạo hình bằng việc lấy bớt gỗ đi: thợ dùng đục, dao, vồ để bóc từng lớp cho tới khi hình hiện ra. Người Việt chia nghề theo độ sâu và cách hình đứng với nền: chạm chìm (hình lõm vào mặt gỗ), chạm nổi (hình nhô lên khỏi nền), chạm bong (nổi cao, có chỗ tách hẳn khỏi nền), chạm lộng (đục thủng xuyên tấm gỗ) và tạc tròn (khối đứng tự do, nhìn được bốn phía). Cùng một bức hoành phi hay một cánh cửa võng, thợ giỏi thường phối hai ba kiểu này với nhau.
Một nghề "chỉ được lấy đi"
Khác với nặn tượng đất, nơi người làm có thể đắp thêm, chạm khắc là phép trừ. Nhát đục đã bóc mất một mảng gỗ thì không gắn lại cho liền được. Vì vậy thợ chạm già hay nói đại ý: nhìn gỗ lâu hơn cầm đục. Trước khi chọn kiểu chạm, người thợ phải trả lời ba câu hỏi về chính khối gỗ trước mặt: nó dày bao nhiêu, thớ chạy hướng nào, và bức chạm sẽ được nhìn từ đâu (ngang tầm mắt, từ dưới ngước lên hay từ xa).
Ba câu hỏi đó quyết định gần hết. Một tấm ván dày ba phân không thể làm chạm bong sâu. Một xà đình treo cao sáu bảy mét mà chạm nông thì từ dưới nhìn lên chỉ thấy một mảng mờ. Một bức chạm lộng làm trên gỗ thớ thô, giòn sẽ gãy ngay ở những thanh nối mảnh nhất.
Năm kiểu chạm, đặt cạnh nhau
| Kiểu | Hình so với nền | Xem từ | Thường gặp ở |
|---|---|---|---|
| Chạm chìm | Hình lõm vào, mặt gỗ giữ nguyên | Gần, ánh sáng xiên | Chữ khắc, đường viền trang trí, mặt ván in |
| Chạm nổi | Nền bị hạ xuống, hình nhô lên | Gần và vừa | Mặt tủ, tấm ốp, cánh cửa, hoành phi |
| Chạm bong | Nổi cao, có chỗ hình rời khỏi nền | Vừa và xa | Bức cốn, đầu dư, cửa võng đồ thờ |
| Chạm lộng | Nền bị đục thủng, ánh sáng xuyên qua | Hai mặt, có nguồn sáng phía sau | Cửa võng, khám thờ, ô hộc, vách ngăn |
| Tạc tròn | Không còn nền, khối đứng độc lập | Bốn phía | Tượng thờ, linh vật, tượng nhỏ trưng bày |
Từng kiểu chạm, nhìn kỹ
Chạm chìm: đường nét đi vào trong gỗ
Ở chạm chìm, mặt gỗ ban đầu vẫn là mặt cao nhất. Thợ chỉ đục rãnh hoặc khoét lòng hình xuống dưới mặt đó. Kiểu đơn giản nhất là rãnh chữ V vẽ theo nét, như khắc tên lên một tấm biển. Kiểu kỹ hơn là khoét lòng hình rồi tạo khối bên trong lòng ấy, để mép ngoài vẫn phẳng với mặt ván, người phương Tây gọi là sunken relief, phù điêu Ai Cập cổ dùng rất nhiều.
Ưu điểm của chạm chìm là bền: không có chỗ nào nhô ra để va chạm làm sứt. Nhược điểm là nó cần ánh sáng xiên mới "lên hình". Đứng thẳng trước một bức chạm chìm dưới đèn trần, nhiều khi bạn chỉ thấy những vệt tối mảnh. Mẹo xem: đưa đèn điện thoại sát mặt gỗ, chiếu nghiêng gần như song song với mặt, các nét sẽ đổ bóng rõ ngay.
Chạm nổi: hạ nền để hình đứng lên
Chạm nổi đi ngược lại: thợ hạ toàn bộ phần nền xuống, chừa hình lại ở trên cao rồi mới tạo khối cho hình. Theo độ nổi, người ta thường phân ra nổi thấp (hình chỉ cao hơn nền vài li, giống một bức vẽ có bóng) và nổi cao (hình dày, có chiều sâu rõ, cánh hoa uốn cong, lá cuộn).
Cái khó của chạm nổi nằm ở nền. Nền phải phẳng đều, sạch vết đục, không lồi lõm, vì mắt người nhìn nền như tờ giấy dưới bức vẽ: nền lổn nhổn thì hình đẹp mấy cũng thấy bẩn. Nhiều xưởng có thợ chuyên "đánh nền", việc trông đơn giản mà đòi hỏi tay vững và đục rất sắc. Ở đồ cổ, có khi nền được cố tình để lại vết đục đều như vảy cá, gọi là nền chấm, vừa che lỗi vừa tạo chất cảm.
Chạm bong: khi hình như muốn rời khỏi nền
Chạm bong là chạm nổi đẩy tới cực hạn. Thợ không chỉ hạ nền mà còn đục luồn ra phía sau hình, để một cành hoa, một đuôi rồng, một chân chim tách hẳn khỏi nền, chỉ còn nối với bức chạm ở vài điểm. Nhìn từ xa, các lớp hình chồng lên nhau tạo chiều sâu, ánh sáng lọt vào khe giữa các lớp làm bức chạm như có không khí bên trong.
Đây là kỹ thuật đòi hỏi gỗ dẻo, thớ mịn và người thợ đọc thớ rất giỏi, vì những phần đã bong ra mỏng và dễ gãy theo thớ. Các mảng chạm trên vì kèo đình làng Bắc Bộ thế kỷ 16–17 là ví dụ quen thuộc: có chỗ hình người, hình thú tách lớp sâu tới mức thò hẳn tay vào khe phía sau được.
Chạm lộng: đục thủng xuyên tấm gỗ
Chạm lộng bỏ hẳn nền. Phần không thuộc về hình bị đục xuyên qua, để lại một tấm ren gỗ mà ánh sáng đi xuyên được. Cửa võng trên ban thờ, ô thoáng trên cửa nhà rường, vách ngăn trong nhà cổ thường dùng kiểu này: vừa trang trí vừa cho gió, cho sáng.
Chạm lộng có hai cấp. Lộng phẳng chỉ là một lớp hình được cưa lọng và tạo khối nhẹ. Lộng nhiều tầng thì hình ở lớp trước, lớp giữa, lớp sau đều được đục trong cùng một khối gỗ dày, nhìn nghiêng thấy rõ tầng lớp. Kỹ thuật này đủ phức tạp để có bài riêng trong danh mục này.
Tạc tròn: khối gỗ nhìn từ bốn phía
Khi không còn nền, ta có tượng. Tạc tròn đòi hỏi tư duy khối hoàn toàn khác: mỗi nhát đục ở mặt trước đều ảnh hưởng tới dáng nhìn từ mặt bên. Tượng thờ gỗ trong chùa, đình Việt Nam phần lớn là tạc tròn, thường bằng gỗ mít, phủ sơn ta và thếp vàng. Ngay cả tượng tạc tròn cũng có "mặt chính": tượng thờ đặt trên bệ, ít khi được ngắm từ phía sau, nên phần lưng thường được làm giản lược hơn.
Giữa chạm bong và tạc tròn có một vùng lẫn: những con nghê, con rồng chạm ở đầu dư gần như là tượng tròn nhưng vẫn gắn vào một khối kiến trúc. Thợ cũ không phân biệt quá chặt, họ gọi theo việc chứ không theo sách.
Cách nhận ra kiểu chạm khi đứng trước một bức thật
- Tìm mặt gỗ gốc. Nếu mép ngoài phẳng và cao nhất, phần hình lõm xuống: chạm chìm. Nếu hình cao nhất, phần quanh nó thấp xuống: chạm nổi.
- Nhìn khe phía sau hình. Rọi đèn vào kẽ giữa hình và nền. Thấy luồn được ra phía sau: chạm bong.
- Nhìn ngược sáng. Ánh sáng đi xuyên: chạm lộng. Đếm xem có mấy lớp hình chồng nhau.
- Đi vòng quanh. Hình vẫn có khối ở mặt bên, mặt sau: tạc tròn.
Làm bốn bước này vài lần ở một ngôi đình, một bảo tàng, mắt bạn sẽ tự phân loại mà không cần nghĩ.
Góc nhìn hôm nay: bắt đầu từ đâu
Với người muốn tự học, thứ tự hợp lý là chạm chìm (khắc rãnh, khắc chữ) rồi chạm nổi thấp, sau đó mới tới tạc tròn nhỏ. Chạm bong và chạm lộng nhiều tầng là tay nghề của người đã quen đọc thớ nhiều năm. Dù kiểu nào, quy tắc an toàn vẫn như nhau: lưỡi đục luôn hướng ra xa người, tay giữ phôi đặt sau lưỡi, phôi nên được kẹp chặt bằng ê-tô hay cảo.
Muốn xem tận mắt đủ năm kiểu trong một buổi, hãy đến Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội), nơi trưng bày nhiều mảng chạm đình và tượng gỗ cổ. Mang theo đèn pin nhỏ, đứng nghiêng và rọi xiên, bạn sẽ thấy những thứ mà khách đi lướt không thấy. Sách nên đọc thêm: các công trình về mỹ thuật cổ của Trần Lâm Biền và Chu Quang Trứ.
Câu hỏi thường gặp
Chạm khắc gỗ có mấy loại?
Theo cách gọi phổ biến của thợ Việt có năm kiểu chính: chạm chìm, chạm nổi, chạm bong, chạm lộng và tạc tròn. Cách phân loại dựa vào độ sâu và quan hệ giữa hình với nền. Một sản phẩm thật thường phối nhiều kiểu cùng lúc.
Chạm nổi và chạm chìm khác nhau thế nào?
Chạm chìm giữ nguyên mặt gỗ và đục hình lõm xuống. Chạm nổi hạ phần nền xuống để hình nhô lên. Chạm chìm bền vì không có chỗ nhô ra, chạm nổi lên hình rõ hơn dưới nhiều kiểu ánh sáng.
Chạm lộng là gì?
Chạm lộng là kiểu chạm đục thủng xuyên tấm gỗ, bỏ hẳn phần nền để ánh sáng đi qua. Kiểu này thường dùng cho cửa võng, khám thờ, ô thoáng và vách ngăn. Lộng nhiều tầng là cấp khó nhất vì nhiều lớp hình nằm trong cùng một khối.
Chạm bong khác chạm lộng ở đâu?
Chạm bong vẫn còn nền, chỉ là hình nổi cao và có chỗ tách hẳn khỏi nền. Chạm lộng thì nền đã bị đục thủng. Có thể nhận biết bằng cách nhìn ngược sáng: chạm lộng cho ánh sáng xuyên qua, chạm bong thì không.
Người mới học nên tập kiểu chạm nào trước?
Nên bắt đầu bằng chạm chìm, như khắc rãnh hay khắc chữ, rồi tới chạm nổi thấp trên một tấm gỗ mềm. Hai kiểu này dạy cách đọc thớ và giữ nền phẳng. Tạc tròn và chạm lộng nên để sau khi đã quen tay.