Chạm KhắcWiki
Tìm
Kỹ thuật chạm gỗ

Gỗ dùng để chạm khắc: mít, dổi, gụ, nghiến, pơ mu và gỗ mềm cho người mới

Gỗ hợp chạm khắc có thớ mịn, đều, dẻo và ổn định. Thợ Việt dùng gỗ mít cho tượng thờ, dổi và gụ cho đồ thờ; người mới nên bắt đầu bằng gỗ mềm như gỗ đoạn (basswood).

Gỗ dùng để chạm khắc: mít, dổi, gụ, nghiến, pơ mu và gỗ mềm cho người mới

Gỗ hợp để chạm khắc là gỗ có thớ mịn, đều, đủ dẻo để không vỡ vụn dưới lưỡi đục và đủ ổn định để không nứt sau khi chạm xong. Thợ Việt truyền thống dùng nhiều nhất là gỗ mít cho tượng thờ, gỗ dổi và gỗ gụ cho đồ thờ, đồ nội thất chạm, còn gỗ nghiến cứng tới mức chỉ hợp với những món cần chịu lực. Người mới tự học thì nên bắt đầu bằng gỗ mềm, thớ thẳng, giá phải chăng như gỗ đoạn (basswood), thông trắng hoặc những loại gỗ mềm sẵn ở địa phương.

Thợ chạm nhìn gì ở một khúc gỗ

Người bán gỗ hay nói về màu, vân và độ quý. Người chạm thì quan tâm bốn thứ khác:

  • Độ mịn của thớ. Thớ mịn giữ được nét nhỏ như sợi râu rồng, mép cánh hoa. Thớ thô thì nét mảnh bị toác, chỉ hợp với hình khối to.
  • Độ đều. Gỗ có vòng năm mềm cứng xen kẽ rõ rệt (như nhiều loại thông) khiến đục trượt trên vòng cứng rồi lún vào vòng mềm. Gỗ đều thì lưỡi đi một mạch.
  • Độ dẻo. Gỗ dẻo uốn nhẹ dưới lưỡi rồi đứt gọn. Gỗ giòn thì gãy theo thớ, sứt mép.
  • Độ ổn định. Có loại gỗ đã khô mà vẫn co ngót, cong vênh mạnh theo mùa. Bức chạm mất cả tháng mà nứt dọc thì công cốc.

Độ cứng là thứ thứ năm, và nó là con dao hai lưỡi. Gỗ cứng giữ nét bền, chịu va chạm, nhưng chạm lâu, mòn đục nhanh, mỏi tay. Gỗ mềm chạm nhanh nhưng dễ dập, dễ bị móng tay hằn vào.

Năm loại gỗ chạm quen thuộc ở Việt Nam

Gỗ mít: chất liệu của tượng thờ

Gỗ mít có lẽ là loại gỗ gắn với tượng thờ Việt Nam nhiều nhất. Cây mít trồng khắp làng quê, khúc thân đủ lớn để tạc tượng ngồi. Gỗ mít mới xẻ màu vàng tươi, để lâu sậm dần sang vàng nâu, nâu đỏ. Thớ khá mịn, dẻo, ít nứt vỡ khi đục chi tiết như ngón tay, nếp áo.

Một lý do khác được thợ truyền miệng là gỗ mít ít bị mọt hơn nhiều loại gỗ tạp. Với tượng thờ còn phủ sơn ta và thếp vàng bên ngoài, độ bền ấy càng được nhân lên. Làng tạc tượng Sơn Đồng (Hoài Đức cũ, nay thuộc Hà Nội) gắn tên tuổi với tượng gỗ mít sơn thếp.

Gỗ dổi: thơm, dẻo, màu vàng nhạt

"Dổi" là tên chung cho một số loài cây họ Ngọc lan mọc ở rừng miền Bắc. Gỗ dổi có màu vàng nhạt hoặc vàng xám, thớ mịn và có mùi thơm nhẹ. Gỗ dẻo, nhẹ hơn gụ, chạm khá êm tay, nên được dùng cho tượng, khung cửa, đồ thờ và cột nhà. Trong nghề chạm đồ thờ, dổi được ưa vì cân bằng giữa dễ đục và giữ nét.

Gỗ gụ: thớ mịn, nâu sẫm, của đồ thờ và sập

Gụ là gỗ cứng vừa, nặng, màu nâu, để lâu và đánh dầu thì lên màu nâu sẫm bóng. Thớ mịn và vân đẹp, nên người xưa chuộng gụ cho sập, tủ chè, án gian, hoành phi. Gỗ gụ chạm được nét khá nhỏ, nhưng tốn công hơn mít, dổi và đòi hỏi đục rất sắc. Bù lại, đồ gụ chạm giữ cạnh sắc nét qua nhiều thế hệ nếu được giữ khô ráo.

Gỗ nghiến: rất cứng, ít hợp để chạm

Nghiến là loài gỗ rừng núi đá vôi phía Bắc, nổi tiếng nặng và cứng. Người ta biết nó nhiều nhất qua cái thớt nghiến: băm bao năm không lõm. Chính độ cứng ấy làm nghiến khó chạm, mòn lưỡi đục nhanh, và dễ nứt khi phơi không khéo. Nghiến hợp với món cần chịu lực, chịu ẩm như cột, chân đế, thớt, hơn là với bức chạm nhiều chi tiết. Một số thợ vẫn chạm nghiến, nhưng đó là lựa chọn của người đã có tay nghề và bộ đục tốt.

Pơ mu: thơm, ổn định, nay được quản lý chặt

Pơ mu là cây lá kim mọc ở vùng núi cao, gỗ màu vàng nâu, có mùi thơm đặc trưng do tinh dầu. Gỗ khá mềm so với gụ, thớ mịn, rất ít cong vênh, nên được dùng cho tượng, hộp, đồ thờ và ván trang trí. Pơ mu là loài gỗ thuộc diện quản lý, việc khai thác và buôn bán bị hạn chế theo quy định lâm sản. Nhiều đồ pơ mu trên thị trường hiện là gỗ tái sử dụng hoặc gốc rễ; khi mua, hỏi rõ nguồn gốc và giấy tờ, phần pháp lý cụ thể thì cần hỏi cơ quan kiểm lâm, bài này không bàn.

So sánh nhanh các loại gỗ quen thuộc

GỗCảm giác khi đụcGiữ nét nhỏHợp nhất choHợp người mới?
Gỗ đoạn (basswood)Mềm, đều, êmKháTập dao, tượng nhỏ, phù điêuRất hợp
Thông trắngMềm, có vòng nămTrung bìnhTập khối, đồ trang trí đơn giảnHợp, chọn tấm vòng năm mảnh
MítDẻo, vừa tayTốtTượng thờ, tượng trònHợp khi đã quen
DổiDẻo, thơm nhẹTốtTượng, đồ thờ, khung cửaHợp khi đã quen
GụCứng vừa, đầmRất tốtHoành phi, sập, đồ thờChưa nên
NghiếnRất cứng, nặngTốt nhưng tốn sứcĐồ chịu lực, chân đếKhông nên

Bảng trên là cảm nhận chung của thợ, không phải số đo phòng thí nghiệm. Cùng một loài, gỗ lõi và gỗ giác, gỗ rừng và gỗ trồng có thể khác nhau khá nhiều.

Gỗ mềm cho người mới: vì sao gỗ đoạn được chuộng

Ở châu Âu, gỗ đoạn (cây đoạn, linden hay lime) là chất liệu kinh điển của tượng gỗ. Nhà điêu khắc Đức Tilman Riemenschneider (khoảng 1460–1531) tạc nhiều bàn thờ lớn bằng gỗ đoạn; ở Anh, Grinling Gibbons (1648–1721) làm những vòng hoa lá chạm bong mỏng như thật cũng bằng gỗ đoạn. Thứ họ cần, và người mới cũng cần, là thớ rất đều, hầu như không có vòng năm cứng, đục theo hướng nào cũng ít toạc.

Ở Việt Nam, gỗ đoạn phải nhập, có bán dạng phôi khối cho người học khắc. Nếu không mua được, hãy hỏi các xưởng mộc gần nhà xin đầu mẩu gỗ mềm, thớ thẳng, không mắt. Tránh gỗ ván ép, gỗ ghép thanh (keo làm cùn lưỡi, lớp ghép bong ra) và gỗ tạp còn tươi chưa biết loài.

Gỗ quý, gỗ cấm: một lưu ý ngắn

Một số loài gỗ quý như trắc, cẩm lai, hương nằm trong danh mục quản lý của Việt Nam và Công ước CITES; khai thác, mua bán, vận chuyển chịu ràng buộc pháp lý. Nhiều loài họ Dalbergia (trong đó có trắc, cẩm lai) còn được ghi nhận gây kích ứng da và dị ứng hô hấp ở thợ làm gỗ. Với người tự học, không có lý do gì phải bắt đầu bằng gỗ quý: chúng cứng, đắt, bụi gây dị ứng, và lỗi của người mới trên gỗ quý là lỗi tốn kém nhất.

Việc làm được ngay: thử một khúc gỗ trong năm phút

  1. Kẹp khúc gỗ vào ê-tô hoặc cảo xuống mép bàn.
  2. Lấy một con dao gọt sắc, cắt một nhát xuôi thớ ở cạnh, đẩy lưỡi ra xa người.
  3. Nhìn phoi: phoi cuộn liền, mặt cắt bóng là gỗ thớ đều và dao đủ sắc. Phoi vụn, mặt cắt xơ là gỗ thô hoặc còn ẩm.
  4. Cắt một nhát ngang thớ ở góc cạnh. Mép sứt lớn là gỗ giòn, khó giữ chi tiết nhỏ.
  5. Ấn móng tay vào mặt gỗ. Lún sâu là gỗ rất mềm, sẽ dễ dập khi kẹp.

Năm phút này cho bạn biết nhiều hơn mọi tên gọi trên nhãn. Khi thử, đeo găng chống cắt ở tay giữ gỗ nếu không kẹp được chắc.

Câu hỏi thường gặp

Gỗ gì dễ chạm khắc nhất?

Gỗ đoạn (basswood) thường được coi là dễ chạm nhất cho người mới vì mềm, thớ rất đều, ít toạc. Thông trắng tấm vòng năm mảnh cũng dùng được. Trong các loại gỗ truyền thống Việt Nam, mít và dổi dễ chạm hơn gụ hay nghiến.

Vì sao tượng thờ hay làm bằng gỗ mít?

Gỗ mít dẻo, thớ khá mịn, giữ được chi tiết nhỏ và được thợ truyền miệng là ít mọt. Cây mít lại trồng phổ biến, có khúc thân đủ lớn để tạc tượng. Tượng mít thường được phủ sơn ta và thếp vàng để tăng độ bền.

Gỗ nghiến có chạm khắc được không?

Chạm được, nhưng rất tốn sức và mòn đục nhanh vì gỗ nghiến rất cứng và nặng. Nghiến hợp với đồ cần chịu lực, chịu ẩm hơn là bức chạm nhiều chi tiết. Người mới không nên chọn nghiến.

Gỗ gụ và gỗ dổi khác nhau thế nào khi chạm?

Gụ cứng và nặng hơn, màu nâu sẫm, giữ nét rất sắc nhưng đục tốn công. Dổi nhẹ hơn, màu vàng nhạt, có mùi thơm, dẻo và êm tay hơn. Cả hai đều được dùng cho đồ thờ và đồ nội thất chạm.

Có nên tập chạm trên gỗ ép hoặc gỗ ghép?

Không nên. Lớp keo trong gỗ ép, gỗ ghép làm cùn lưỡi nhanh, các lớp dễ bong khi đục sâu, và hướng thớ đổi liên tục giữa các lớp. Một khối gỗ đặc thớ thẳng dạy bạn nhiều hơn.

Mở app Chạm Khắc

Chỉ được lấy đi — đục gỗ, khắc đá, in tranh

Mở app Chạm Khắc

Bài viết liên quan

Mở app Chạm Khắc

Chỉ được lấy đi — đục gỗ, khắc đá, in tranh

Mở app Chạm Khắc Xem app khác