Hoa văn hay gặp nhất trên đồ chạm Việt gồm tứ quý (bốn loài cây hoa tượng trưng bốn mùa, thường kể tùng, cúc, trúc, mai), bát bửu (bộ tám vật quý, phổ biến là tám vật cầm tay của Bát Tiên), hồi văn (diềm gấp khúc vuông góc như chữ "hồi" chạy vòng) và mây lửa (dải mây đầu nhọn như lưỡi lửa, hay đi cùng rồng). Nhận ra chúng giúp bạn đọc được bức chạm đang kể gì, phần nào là đề tài chính, phần nào chỉ là khung viền.
Hoa văn chính và hoa văn phụ
Trước khi đi vào từng loại, cần phân biệt hai vai. Hoa văn chính chiếm ô lớn, là đề tài của bức chạm: con rồng, cây tùng, cảnh người. Hoa văn phụ làm diềm, làm nền, làm khung: hồi văn, dây lá, hoa chanh, sóng nước. Người thợ giỏi chạm hoa văn chính nổi cao, có tầng; hoa văn phụ chạm thấp, đều, chạy nhịp. Đồ chạm kém hay làm ngược: diềm rối rắm tranh chỗ với đề tài chính.
Tứ quý: bốn mùa trong bốn ô
Tứ quý là bộ bốn cây hoa tượng trưng cho bốn mùa và cho phẩm chất người quân tử theo quan niệm Nho học. Bộ thường kể ở Việt Nam là tùng, cúc, trúc, mai; có nơi kể mai, lan, cúc, trúc. Trên đồ chạm, tứ quý thường được chia vào bốn ô cánh tủ, bốn mặt ván, bốn tấm ở tựa ghế, mỗi ô một loài.
| Cây hoa | Nhận ra trên bức chạm | Hay đi kèm |
|---|---|---|
| Tùng (thông) | Thân xù xì, cành ngang, lá kim chụm thành hình quạt tròn | Hạc, hươu, đá núi |
| Cúc | Bông tròn nhiều lớp cánh nhỏ dài, lá xẻ thuỳ | Bướm, chim nhỏ, hòn đá |
| Trúc | Thân có đốt, lá thon dài xếp thành chùm ba lá như chữ Hán "cá" (个) | Chim sẻ, trăng |
| Mai | Cành gầy gẫy khúc, bông năm cánh tròn, nụ tròn nhỏ | Chim, trăng |
| Lan (khi có trong bộ) | Lá dài mềm cong vút, hoa nhỏ | Đá, bướm |
Mẹo đọc: nếu bốn ô có bốn loài khác nhau, gần như chắc chắn là một bộ tứ quý. Hãy kiểm thứ tự: nhiều bộ đặt theo vòng mùa, nhưng không phải bộ nào cũng tuân theo. Tứ quý cũng hay đi với tứ linh (long, ly, quy, phượng) trên đồ thờ, tứ linh ở ô lớn, tứ quý ở ô nhỏ.
Bát bửu: tám vật quý, nhiều bộ khác nhau
"Bát bửu" (bát bảo) là chữ chung cho một bộ tám vật quý. Đây là chỗ dễ nhầm, vì có nhiều bộ khác nhau:
- Ám bát tiên: tám vật cầm tay của tám vị tiên trong tích Bát Tiên, chạm riêng không có người. Thường kể: quạt, kiếm, bầu rượu, giỏ hoa, sáo, hoa sen, phách, ống tre (ngư cổ). Cách gọi "ám" là vì tiên được "ẩn" đi, chỉ còn vật. Đây là bộ hay gặp nhất trên đồ gỗ chạm và kiến trúc thời Nguyễn.
- Bát bảo nhà Phật: tám vật cát tường (lọng, cá, bình, hoa sen, ốc, nút thắt, tràng phan, bánh xe pháp). Ít gặp hơn trên đồ chạm gỗ dân gian Việt, gặp nhiều hơn trên đồ gốm, đồ đồng có ảnh hưởng Trung Hoa, Tây Tạng.
- Bộ vật văn chương: sách, bút, nghiên, cuộn thư hoạ, đàn, bình hoa, khánh... kết hợp tuỳ nơi. Một số tài liệu về trang trí cung đình Huế gọi chung các bộ này là bát bửu.
Thường các vật được buộc dải lụa bay, đặt trong ô nhỏ chạy quanh bức chạm chính hoặc rải đều trên mặt tủ, mặt sập. Khi thấy những vật thể rời buộc dải lụa, hãy đếm: đủ tám và có quạt, kiếm, bầu là ám bát tiên; có bánh xe, ốc, nút thắt là bát bảo nhà Phật.
Hồi văn: chiếc khung quen thuộc nhất
Hồi văn là đường kẻ gấp khúc vuông góc, chạy vòng vào trong rồi lại vòng ra, lặp liên tục thành một dải. Tên gọi lấy từ chữ Hán "hồi" (回) vì hình dáng giống chữ đó. Hồi văn gần như có mặt ở mọi nơi: diềm sập gụ, chân bàn, khung hoành phi, viền ván tủ, mép bia đá.
Vai trò của nó là khung: tạo nhịp, khép bức chạm lại, dẫn mắt chạy quanh. Hồi văn tốt có các góc vuông sắc, độ rộng nét đều, khoảng cách đều. Đây là chỗ dễ nhìn ra tay nghề nhất, vì sai một chút là thấy ngay: góc tròn, nét to nhỏ không đều, khúc gấp bị lệch nhịp.
Biến thể: hồi văn chữ "vạn" (卍) xoay liên tục, hồi văn đứt đoạn, hồi văn kết hợp hoa chanh ở các điểm giao.
Mây lửa và mây cuộn
Mây là hoa văn nền của rất nhiều bức chạm có rồng, phượng, lân. Có hai kiểu thường được phân biệt:
- Mây cuộn (mây cụm): các cụm tròn xoắn ốc, đuôi mềm, đầu tròn. Trông hiền, êm.
- Mây lửa: dải mây có đầu nhọn, xoắn ra như lưỡi lửa, chạy dọc theo thân rồng hoặc tua ra từ chân, khuỷu. Trông động, mạnh.
Trên bức chạm rồng, mây lửa hay tua ra từ khuỷu chân, đuôi, sống lưng như những ngọn lửa tách khỏi thân. Đọc mây giúp xác định hướng chuyển động: các đầu mây lửa thường chỉ ngược hướng con rồng đang lao tới, như tóc bay trong gió.
Về dáng rồng, các nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ thường dùng nó để nhận niên đại: rồng thời Lý mình tròn thon uốn nhiều khúc đều đặn, rồng thời Mạc và Lê Trung hưng mạnh mẽ dân dã hơn, rồng thời Nguyễn thường đầy đặn hơn với nhiều vảy, mây lửa. Đây chỉ là nét lớn, mỗi công trình còn nhiều biến thể. Ý nghĩa linh vật của rồng, lân, phượng là một chủ đề riêng mà bài này không đi sâu.
Những hoa văn phụ khác hay gặp
| Hoa văn | Hình dáng | Hay ở đâu |
|---|---|---|
| Hoa chanh | Bông nhỏ bốn cánh, xếp lưới hoặc dải | Nền, diềm, lấp ô trống |
| Dây lá (lá cúc, lá nho, dây leo) | Dây uốn sóng liên tục mọc lá hai bên | Diềm dài, viền cửa |
| Hoa sen | Cánh to nhọn đầu, đài sen, gương sen | Bệ tượng, chân tảng, đồ thờ |
| Sóng nước | Vòng cung chồng nhau như vảy, hoặc đường lượn | Chân đế, phần dưới bức chạm |
| Chữ cách điệu (thọ, phúc) | Chữ Hán biến thành hình tròn hoặc hình dài | Ô giữa, tâm bức chạm, đồ mừng thọ |
| Triện | Ô hình chữ nhật có hoa văn gấp khúc như dấu triện | Đầu và cuối diềm |
Đọc một bức chạm qua hoa văn: ví dụ cánh tủ
Thử đứng trước một chiếc tủ chè gỗ chạm. Viền ngoài cùng là hồi văn, góc có triện. Bên trong là bốn ô cánh, mỗi ô một loài: tùng có hạc, cúc có bướm, trúc có chim sẻ, mai có chim. Bộ đó là tứ quý. Phía trên, dải ngang có tám vật buộc dải lụa: quạt, kiếm, bầu rượu, giỏ hoa... là ám bát tiên. Nền các ô lấp hoa chanh nhỏ. Thế là bạn đã đọc được cả chiếc tủ: một bộ đề tài chính, một bộ đề tài phụ, một hệ khung. Tiếp theo, hãy nhìn tay nghề ở từng loại theo bài "đọc một bức chạm".
Lưu ý khi tìm hiểu
- Tên gọi và cách kể bộ hoa văn khác nhau theo vùng, theo tài liệu. Khi gặp mâu thuẫn, hãy ghi "có nơi kể khác" thay vì cãi nhau xem bộ nào đúng.
- Sách nên đọc: các công trình về hoa văn Việt Nam của Nguyễn Du Chi, các nghiên cứu mỹ thuật cổ của Trần Lâm Biền và Chu Quang Trứ.
- Muốn xem tận mắt nhiều hoa văn cùng lúc: các phòng trưng bày đồ gỗ, điêu khắc ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
Câu hỏi thường gặp
Tứ quý trên đồ gỗ là gì?
Là bộ bốn cây hoa tượng trưng bốn mùa, ở Việt Nam thường kể tùng, cúc, trúc, mai (có nơi kể mai, lan, cúc, trúc). Trên đồ chạm, mỗi loài thường nằm một ô, hay đi kèm chim, bướm, hạc.
Bát bửu gồm những gì?
Có nhiều bộ. Bộ hay gặp trên đồ gỗ và kiến trúc thời Nguyễn là ám bát tiên, tám vật cầm tay của Bát Tiên như quạt, kiếm, bầu rượu, giỏ hoa, sáo, hoa sen, phách, ống tre. Còn có bát bảo nhà Phật và các bộ vật văn chương.
Hoa văn hồi văn là gì?
Là dải đường kẻ gấp khúc vuông góc lặp liên tục, giống chữ Hán "hồi", thường dùng làm diềm, khung viền trên sập, tủ, hoành phi, bia đá. Hồi văn có góc vuông sắc và nhịp đều là dấu hiệu tay nghề tốt.
Mây lửa khác mây cuộn thế nào?
Mây cuộn có đầu tròn, xoắn ốc mềm, trông êm. Mây lửa có đầu nhọn xoắn như lưỡi lửa, hay tua ra từ thân rồng, tạo cảm giác chuyển động mạnh.
Có thể đoán niên đại đồ chạm qua dáng rồng không?
Các nhà nghiên cứu dùng dáng rồng như một manh mối, ví dụ rồng thời Lý mình thon uốn khúc đều, rồng thời Nguyễn đầy đặn nhiều vảy. Nhưng đây chỉ là nét lớn, đồ phỏng cổ cũng chép dáng cũ, nên cần xem thêm gỗ, kỹ thuật và nguồn gốc.