Chạm KhắcWiki
Tìm
Làng nghề chạm gỗ Việt

Làng nghề chạm khắc gỗ Việt Nam: bức tranh chung theo từng vùng miền

Làng chạm gỗ Việt dày nhất ở Bắc Bộ quanh Từ Sơn, Hoài Đức, Ý Yên; miền Trung có Kim Bồng, nhà rường Huế; Tây Nguyên có tượng nhà mồ. Mỗi vùng một nhu cầu gốc.

Làng nghề chạm khắc gỗ Việt Nam: bức tranh chung theo từng vùng miền

Làng nghề chạm khắc gỗ Việt Nam dày nhất ở đồng bằng Bắc Bộ, quanh Từ Sơn (Bắc Ninh), Hoài Đức cũ (Hà Nội) và vùng Ý Yên cũ (nay thuộc Ninh Bình), rồi thưa dần vào miền Trung với Kim Bồng (Hội An) và các phường thợ nhà rường Huế. Mỗi vùng đi theo một "nhu cầu gốc" khác nhau: Bắc Bộ làm đình chùa, đồ thờ và tượng; miền Trung làm nhà gỗ, ghe thuyền; Tây Nguyên tạc tượng nhà mồ. Hiểu nhu cầu gốc ấy là đọc ra được vì sao mỗi làng có tay nghề riêng.

Vì sao làng nghề gỗ mọc dày ở đồng bằng Bắc Bộ

Đồng bằng sông Hồng có mật độ đình, chùa, đền, phủ thuộc loại cao nhất nước. Mỗi làng xưa thường có ít nhất một ngôi đình, nhiều làng có thêm chùa, đền, nhà thờ họ. Toàn bộ khung chịu lực của các công trình ấy là gỗ, và phần nào lộ ra mắt người đều có thể được chạm: đầu dư, cốn, bẩy, xà, ván nong, cửa võng. Thêm vào đó là đồ thờ đặt bên trong: hương án, khám, ngai, kiệu, tượng. Nhu cầu ấy kéo dài hàng trăm năm, đủ để nuôi những làng chuyên một khâu.

Kết quả là sự chuyên môn hoá theo làng, giống chuyện làng gốm, làng dệt. Có làng mạnh về đồ thờ và đồ nội thất chạm, có làng chuyên tạc tượng và sơn thếp, có làng chủ yếu buôn gỗ và làm hàng mộc. Ranh giới không cứng: thợ đi làm thuê khắp vùng, nghề lan sang làng bên. Nhưng mỗi làng vẫn giữ một "đặc sản" mà người trong nghề nhận ra.

Bản đồ các vùng chính

VùngLàng tiêu biểuThế mạnh truyền thốngĐịa giới hiện nay
Kinh BắcĐồng Kỵ, Phù KhêĐồ gỗ mỹ nghệ, đồ giả cổ, chạm nội thất, buôn gỗKhu Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Xứ ĐoàiSơn ĐồngTạc tượng thờ, đồ thờ sơn son thếp vàngHoài Đức cũ, Hà Nội
Sơn Nam hạLa Xuyên, Cát ĐằngChạm đồ thờ, đồ nội thất; mộc dựng nhàVùng Ý Yên cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình
Xứ QuảngKim BồngMộc dựng nhà, đóng ghe, chạm trang trí nhà phốHội An, nay thuộc thành phố Đà Nẵng
HuếCác phường thợ mộc quanh kinh thànhNhà rường, chạm kết cấu và trang trí cung đìnhThành phố Huế
Tây NguyênBuôn làng Ba Na, Gia Rai và các tộc người khácTượng nhà mồ, tạc bằng rìuGia Lai, Quảng Ngãi (phần Kon Tum cũ), Đắk Lắk

Bảng trên chỉ là phần nổi. Còn nhiều làng chạm gỗ nhỏ hơn rải rác ở Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình cũ, Thanh Hoá, Nghệ An. Khi đọc tài liệu cũ, lưu ý tên đơn vị hành chính đã đổi nhiều lần, nhất là sau đợt sắp xếp năm 2025 bỏ cấp huyện và sáp nhập tỉnh.

Bắc Bộ: đình, chùa và đồ thờ

Ở Bắc Bộ, phong cách chạm gỗ gắn chặt với lịch sử kiến trúc tôn giáo. Các nhà nghiên cứu như Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ đã chỉ ra những lớp phong cách nối nhau: đình thế kỷ 16 với cảnh sinh hoạt dân gian chạm bong khoẻ khoắn, đình chùa thế kỷ 17–18 với rồng, phượng, mây lá ngày càng dày đặc, rồi đến thời Nguyễn với lối chạm cầu kỳ, nhiều chi tiết nhỏ. Thợ làng nghề hôm nay khi làm đồ thờ "phong cách cổ" thực chất đang chọn một trong các lớp ấy để mô phỏng.

Gỗ truyền thống của vùng là lim cho kết cấu, mít cho tượng và đồ chạm thờ, cùng gụ, dổi, vàng tâm cho đồ nội thất. Từ cuối thế kỷ 20, nhiều làng chuyển mạnh sang đồ nội thất bán ra thị trường lớn, dùng thêm gỗ nhập khẩu. Đây là chỗ khác biệt lớn giữa "làng nghề chạm" theo nghĩa xưa và "làng sản xuất đồ gỗ" theo nghĩa nay.

Miền Trung: nhà gỗ, ghe thuyền và đồ cung đình

Từ Huế vào Hội An, nghề gỗ đi theo một hướng khác. Ở đây trọng tâm là dựng nhà: nhà rường Huế, nhà phố Hội An với bộ khung gỗ phức tạp mà phần chạm gắn liền với chức năng chịu lực. Thợ Kim Bồng vừa dựng nhà vừa đóng ghe, nên tay nghề mộc kết cấu của họ rất chắc. Huế lại có thêm nhu cầu của triều Nguyễn: cung điện, lăng tẩm, đồ ngự dụng, thu hút thợ giỏi từ nhiều nơi về kinh.

Chạm miền Trung thường thanh, nét mảnh, hoạ tiết hoa lá, bát bửu, chữ thọ cách điệu, ít cảnh sinh hoạt dân gian như đình Bắc Bộ thế kỷ 16. Khí hậu mưa nhiều, nắng gắt cũng ảnh hưởng đến cách chọn gỗ và cách che chắn phần chạm khỏi mưa tạt.

Tây Nguyên: tượng tạc bằng rìu

Tây Nguyên là một thế giới riêng. Tượng nhà mồ của người Ba Na, Gia Rai và một số tộc người khác không làm để bán hay để thờ lâu dài, mà để dựng trong lễ bỏ mả, rồi để mưa nắng tự huỷ. Dụng cụ chính là rìu và rựa, khối gỗ lớn, đường cắt dứt khoát. Lối tạc này khác hẳn lối đục tỉ mỉ của đồng bằng và được giới mỹ thuật chú ý từ lâu vì vẻ mộc, mạnh.

Làng nghề khác "làng sản xuất" thế nào

Khi đi thực tế, bạn sẽ gặp cả hai kiểu dưới cùng một tên làng:

  • Xưởng thủ công: thợ ngồi đục trên phôi gỗ, có bản can mẫu, bộ đục hàng chục chiếc. Sản phẩm là đồ thờ, tượng, bức chạm treo tường, phục chế đồ cổ.
  • Xưởng bán cơ giới: phôi được cắt, phay thô bằng máy, thợ chỉ đục tinh và sửa nét. Đây là kiểu phổ biến nhất hiện nay.
  • Xưởng CNC: máy phay theo file, thợ làm khâu hoàn thiện. Hàng ra đều, nhanh, nhưng nét thường "khô", chiều sâu đồng đều.

Không có kiểu nào là "sai". Nhưng nếu bạn đến làng nghề để xem nghề chạm tay, hãy hỏi thẳng xưởng nào còn đục tay từ đầu đến cuối. Câu hỏi ấy thợ nghe rất quen.

Góc nhìn hôm nay: muốn tìm hiểu thêm thì bắt đầu từ đâu

Một cách học hiệu quả là đi xem đồ chạm cổ trước, đi làng nghề sau. Khi đã nhìn tận mắt chạm bong ở đình Tây Đằng hay tượng ở chùa Tây Phương, bạn sẽ đánh giá sản phẩm làng nghề tinh hơn nhiều. Nơi nên đến:

  • Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội): phòng mỹ thuật cổ có tượng gỗ, mảng chạm đình các thế kỷ.
  • Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Hà Nội): khu ngoài trời có nhà mồ Gia Rai với tượng, cùng nhiều kiến trúc gỗ các tộc người.
  • Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: đồ gỗ và đồ thờ qua các thời.
  • Phố cổ Hội An và các nhà rường ở Huế: kiến trúc gỗ còn đang có người ở.

Sách nên tìm: các công trình của Trần Lâm Biền về đồ thờ và kiến trúc tôn giáo Việt, của Chu Quang Trứ về mỹ thuật Lý – Trần và đình làng, cuốn Hoa văn Việt Nam của Nguyễn Du Chi. Đọc một chương rồi đi xem một ngôi đình, hiệu quả hơn đọc cả cuốn mà không đi.

Một việc làm được ngay: lần tới đi lễ đình làng, đứng dưới gian giữa, ngửa nhìn đầu dư và cốn. Đếm xem mảng chạm có mấy lớp nông sâu, nét có đều như máy không. Đó là bài tập đọc đồ chạm đầu tiên.

Câu hỏi thường gặp

Làng nghề chạm khắc gỗ nổi tiếng nhất Việt Nam là làng nào?

Không có một làng "nhất" cho mọi loại đồ. Đồng Kỵ và Phù Khê (Từ Sơn, Bắc Ninh) nổi tiếng về đồ gỗ mỹ nghệ và chạm nội thất; Sơn Đồng (Hà Nội) về tượng thờ; La Xuyên (nay thuộc Ninh Bình) về đồ thờ chạm; Kim Bồng (Hội An) về mộc dựng nhà. Tuỳ bạn quan tâm loại đồ nào mà chọn làng.

Vì sao làng nghề gỗ tập trung ở miền Bắc?

Đồng bằng Bắc Bộ có mật độ đình, chùa, đền rất dày, khung các công trình này đều bằng gỗ và được chạm trang trí. Nhu cầu đồ thờ, tượng và sửa chữa kéo dài hàng trăm năm nuôi được những làng chuyên một khâu. Miền Trung và miền Nam cũng có nghề gỗ nhưng theo hướng dựng nhà, đóng ghe nhiều hơn.

Làng nghề chạm gỗ hiện nay còn đục tay không?

Còn, nhưng phần lớn xưởng đã kết hợp máy: cắt phôi, phay thô bằng máy rồi thợ đục tinh. Một số xưởng dùng máy CNC cho gần hết các khâu. Xưởng đục tay hoàn toàn thường nhận đồ thờ, tượng và đồ phục chế theo đặt hàng.

Tượng nhà mồ Tây Nguyên có phải là làng nghề không?

Không theo nghĩa làng nghề sản xuất để bán. Tượng nhà mồ được tạc cho lễ bỏ mả của người Ba Na, Gia Rai và một số tộc người khác, gắn với tín ngưỡng, rồi để tự huỷ theo thời gian. Muốn xem, có thể đến khu ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội.

Đi làng nghề chạm gỗ nên chuẩn bị gì?

Nên đi buổi sáng ngày thường, khi xưởng đang làm việc. Đeo khẩu trang vì bụi gỗ nhiều, đi giày kín. Xin phép trước khi chụp ảnh thợ và đừng chạm vào dụng cụ khi chưa được mời.

Mở app Chạm Khắc

Chỉ được lấy đi — đục gỗ, khắc đá, in tranh

Mở app Chạm Khắc

Bài viết liên quan

Mở app Chạm Khắc

Chỉ được lấy đi — đục gỗ, khắc đá, in tranh

Mở app Chạm Khắc Xem app khác