Trên một bức thư pháp hay tranh thuỷ mặc, con dấu không chỉ để xác nhận tác giả mà còn là một mảng màu đỏ giữ thăng bằng cho cả bức. Dấu tên đóng ngay dưới chữ ký; dấu nhàn chương mang một câu chữ, một tên thư phòng, đóng ở đầu bức hoặc ở góc; dấu của người sưu tầm đóng ở lề về sau. Đóng đúng chỗ, đúng cỡ, bức tranh "đứng"; đóng sai, nó như có vết bẩn.
Các loại dấu trên một bức thư hoạ
| Loại dấu | Nội dung | Vị trí thường gặp |
|---|---|---|
| Danh chương (dấu tên) | Họ tên, tên tự hoặc tên hiệu của tác giả | Ngay dưới hoặc cạnh dòng ký tên |
| Dấu mở đầu (khởi thủ chương) | Một câu ngắn, tên thư phòng; thường hình chữ nhật đứng hoặc bầu dục | Góc trên bên phải, nơi bắt đầu đọc chữ |
| Dấu chặn góc (áp giác chương) | Một câu chữ hoặc hình | Một góc dưới, cân với khối chữ |
| Nhàn chương | Câu thơ, châm ngôn, tên nơi ở, năm sinh | Linh hoạt, theo bố cục |
| Dấu giám tàng | Tên người sưu tầm hoặc bộ sưu tập | Lề tranh, phần giấy trống, phần giấy bồi |
| Dấu giáp lai | Thường là dấu tên | Đóng vắt qua đường nối hai tờ giấy |
"Nhàn" nghĩa là rảnh rang. Nhàn chương là dấu không bắt buộc, không mang tên người, để tác giả nói thêm một điều về mình: một câu thơ yêu thích, một châm ngôn, tên căn phòng viết chữ. Nhiều người sưu tầm nhàn chương chẳng kém sưu tầm tranh.
Dấu tên: đóng ở đâu, mấy con
Dấu tên đi theo chữ ký (lạc khoản). Một vài thói quen phổ biến:
- Một hoặc hai dấu. Hai dấu thì thường xếp dọc, cách nhau khoảng bằng chiều rộng một con dấu hoặc ít hơn.
- Dấu trên bạch văn, dấu dưới chu văn là một quy ước hay gặp: trên là dấu họ tên, dưới là dấu tên tự hay hiệu. Không phải luật, nhưng nhịp một trắng một đỏ dễ nhìn.
- Cỡ dấu không lớn hơn cỡ chữ ký. Dấu to hơn chữ ký trông như dấu đè lên người.
- Không đóng dính vào chữ. Để một khoảng trắng nhỏ giữa nét chữ ký cuối cùng và mép dấu.
- Thẳng hàng với cột chữ ký, hoặc lệch có chủ ý để cân với khoảng trống.
Dấu như một mảng màu
Bức thư pháp phần lớn chỉ có đen của mực và trắng của giấy. Một con dấu đỏ là chấm màu duy nhất, nên mắt người xem bị kéo về đó ngay. Người viết dùng điều này có chủ ý:
- Cân trọng lượng: nếu khối chữ dồn sang phải, một dấu ở góc dưới bên trái kéo bức tranh lại thăng bằng.
- Khép bố cục: dấu mở đầu ở góc trên phải và dấu tên ở cuối tạo thành hai điểm đầu cuối, mắt đi trọn từ đầu tới cuối bức.
- Lấp khoảng trống chết: một khoảng trắng vô duyên giữa hai khối chữ có thể được giải bằng một nhàn chương nhỏ.
- Không quá nhiều: ba bốn con dấu trên một bức nhỏ đã là nhiều. Quá tay, bức chữ trông như tờ giấy tờ hành chính.
Dấu bạch văn đỏ đặc nặng mắt hơn dấu chu văn cùng cỡ. Trên bức chữ nét mảnh, mực nhạt, chọn dấu chu văn hoặc dấu nhỏ. Trên bức chữ đậm, mạnh, dấu bạch văn đứng vững.
Dấu người sưu tầm: những lớp lịch sử trên một bức tranh
Ở Trung Hoa, người sở hữu một bức thư hoạ quý thường đóng dấu của mình lên đó, gọi là dấu giám tàng. Một bức tranh qua tay nhiều đời có thể mang hàng chục dấu, mỗi dấu là một mắt xích trong lịch sử sở hữu. Giới nghiên cứu dựa vào chúng để dựng lại đường đi của bức tranh qua các bộ sưu tập.
Vua Càn Long nhà Thanh nổi tiếng đóng rất nhiều dấu và đề rất nhiều chữ lên các bức thư hoạ trong cung. Người đời sau có người khen ông yêu nghệ thuật, có người chê ông lấp mất khoảng trắng của những kiệt tác. Câu chuyện ấy cho thấy dấu không chỉ là chuyện cá nhân: đóng lên tác phẩm của người khác là một hành động để lại dấu vết vĩnh viễn.
Dấu giáp lai
Khi một văn bản hoặc một cuộn tranh gồm nhiều tờ nối nhau, người ta đóng một con dấu vắt qua đường nối, mỗi tờ giữ một nửa dấu. Nếu ai đó tháo ra thay một tờ khác, hai nửa dấu sẽ không khớp. Lối này gọi là dấu giáp lai. Trên các cuộn thư hoạ dài, dấu giáp lai của người sưu tầm còn cho biết cuộn tranh đã từng được bồi, nối như thế nào.
Thứ tự làm việc khi đóng dấu lên tác phẩm
- Chờ mực khô hẳn. Đóng khi mực còn ẩm, lực ép làm mực nhoè vào son.
- Thử vị trí bằng giấy đỏ: cắt vài mẩu giấy đỏ đúng cỡ các con dấu, đặt thử lên bức chữ ở các vị trí khác nhau, lùi xa hai mét mà nhìn. Đây là mẹo đơn giản nhất mà nhiều người viết dùng.
- Đóng thử trên giấy nháp cùng loại để biết lực và lượng son.
- Đặt đệm mềm dưới vị trí đóng và đặt thước chặn chữ L.
- Đóng dấu tên trước, rồi mới tới nhàn chương. Nếu dấu tên đã đẹp, bố cục đã gần xong.
- Để khô tự nhiên trước khi cuộn hay bồi.
Gợi ý nội dung cho nhàn chương đầu tiên
Nếu bạn đang tập viết chữ và muốn có một nhàn chương riêng, vài hướng đơn giản:
- Tên căn phòng hay góc viết chữ của mình.
- Một chữ đơn: "nhẫn", "tĩnh", "an", "tâm" hay một chữ quốc ngữ có nghĩa với bạn.
- Con giáp năm sinh, khắc dạng hình.
- Tên quê, tên con sông, ngọn núi gắn bó.
Hình dạng nhàn chương cũng tự do hơn dấu tên: tròn, bầu dục, hình quả bầu, hình chiếc lá, hoặc giữ nguyên mặt đá tự nhiên không vuông vức.
Những lỗi đóng dấu làm hỏng tác phẩm
- Dấu to hơn chữ ký: mắt người xem nhìn dấu trước chữ. Chọn dấu nhỏ hơn.
- Dấu chạm vào nét chữ: trông như đóng vội. Chừa một khoảng trắng nhỏ.
- Dấu nghiêng: trên bức chữ thẳng hàng, một dấu nghiêng vài độ đã thấy rõ. Dùng thước chặn chữ L.
- Đóng khi mực chưa khô: mực nhoè vào son, cả chữ lẫn dấu đều hỏng.
- Quá nhiều nhàn chương: mỗi dấu thêm vào phải có lý do trong bố cục.
- Dấu nhoè son: chấm quá nhiều son. Luôn đóng thử trên giấy nháp cùng loại trước.
Một con dấu đóng hỏng gần như không xoá được trên giấy thấm. Vì vậy người viết thà để bức chữ chưa có dấu vài ngày, chờ nghĩ kỹ vị trí, còn hơn đóng vội.
Góc nhìn hôm nay: tập nhìn dấu trên tranh cổ
Lần tới vào bảo tàng có tranh thư hoạ, hoặc mở trang trực tuyến chính thức của các bảo tàng lớn ở Đài Bắc, Bắc Kinh, Tokyo, hãy tập ba việc: tìm dấu tên tác giả ngay dưới chữ ký; đếm các dấu khác và đoán dấu nào là của người sưu tầm (thường ở lề, ở phần giấy bồi); và che hết các dấu đi bằng tay, xem bức tranh thay đổi ra sao. Bài tập cuối cùng cho thấy rõ nhất một con dấu nặng bao nhiêu trong bố cục.
Câu hỏi thường gặp
Nhàn chương là gì?
Nhàn chương là con dấu không mang tên người, khắc một câu thơ, châm ngôn, tên thư phòng hoặc nơi ở. Nó được đóng trên thư hoạ để tác giả nói thêm về mình và để cân bố cục.
Đóng dấu tên trên bức thư pháp ở đâu?
Dấu tên đóng ngay dưới hoặc cạnh dòng ký tên, thường một hoặc hai con xếp dọc. Cỡ dấu không nên lớn hơn chữ ký và nên chừa một khoảng trắng nhỏ giữa chữ và dấu.
Dấu đóng ở góc trên bên phải bức thư pháp là dấu gì?
Thường là dấu mở đầu, gọi là khởi thủ chương, đóng ở nơi bắt đầu đọc chữ. Dấu này hay có hình chữ nhật đứng hoặc bầu dục, mang một câu ngắn hoặc tên thư phòng.
Dấu giám tàng là gì?
Là dấu của người sưu tầm đóng lên bức thư hoạ mình sở hữu. Một bức tranh qua tay nhiều đời có thể mang nhiều dấu giám tàng, giúp các nhà nghiên cứu lần lại lịch sử sở hữu của nó.
Một bức thư pháp nên đóng mấy con dấu?
Không có số cố định. Thường một hai dấu tên và có thể thêm một hai nhàn chương. Trên bức khổ nhỏ, ba bốn con dấu đã là nhiều; quá nhiều sẽ làm rối bố cục.