Đá khắc dấu là những loại đá mềm, mịn, đủ chắc để giữ nét nhưng đủ mềm để khắc bằng dao tay. Bốn loại thường được kể là "tứ đại ấn thạch" của Trung Hoa: đá Thọ Sơn (Phúc Kiến), đá Thanh Điền (Chiết Giang), đá Xương Hoá với kê huyết thạch đỏ như máu gà (Chiết Giang), và đá Ba Lâm (Nội Mông); có tài liệu xếp khác. Người mới không cần đá quý: một viên đá tập Thanh Điền mịn, không nứt là đủ để học.
Vì sao đá mềm làm thay đổi nghề khắc dấu
Ấn cổ làm bằng đồng, vàng, bạc, ngọc, ngà. Đồng phải đúc hoặc khắc bằng dụng cụ thép cứng; ngọc phải mài bằng cát cứng. Người viết chữ đẹp chỉ có thể viết mẫu, việc làm ấn giao cho thợ.
Từ khoảng thời Nguyên – Minh, văn nhân bắt đầu dùng đá mềm. Truyền thống kể rằng hoạ sĩ Vương Miện thời Nguyên đã dùng một loại đá gọi là hoa nhũ thạch để tự khắc dấu, và Văn Bành thời Minh đã phổ biến đá Thanh Điền trong giới văn nhân. Những câu chuyện này có phần truyền tụng, nhưng hướng chung thì rõ: đá mềm cho phép người cầm bút tự cầm dao. Từ đó con dấu thành tác phẩm của chính người dùng.
Đá khắc dấu là đá gì
Về khoáng vật, phần lớn đá khắc dấu thuộc nhóm silicat nhôm mềm như diệp lạp thạch (pyrophyllite), dickite, kaolinite, có khi lẫn các khoáng khác. Độ cứng thang Mohs thường quanh mức 2–3: cứng hơn móng tay một chút ở nhiều loại, mềm hơn dao thép rất nhiều. Nhờ vậy dao khắc dấu cắt được đá mà không cần lực lớn, và nét dao để lại có độ giòn, độ sờn tự nhiên mà gỗ hay nhựa không có.
Mỗi mỏ, mỗi vỉa cho đá khác nhau về màu, độ trong, độ dẻo. Giới chơi đá có hàng trăm tên gọi cho từng loại theo màu và nơi khai thác.
Bốn loại đá thường kể
| Đá | Nơi khai thác | Đặc điểm thường được nói tới |
|---|---|---|
| Thọ Sơn | Vùng Thọ Sơn, Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến | Rất nhiều chủng loại, mịn, có loại trong như sáp. Nổi tiếng nhất là đá Điền Hoàng vàng, xưa được gọi là "vua của đá" |
| Thanh Điền | Vùng Thanh Điền, tỉnh Chiết Giang | Thường xanh nhạt, vàng nhạt; mềm vừa, khắc êm, rất hợp người tập. Loại trong mờ như đèn qua giấy gọi là Đăng Quang Đống |
| Xương Hoá | Vùng Xương Hoá, Lâm An, tỉnh Chiết Giang | Nổi tiếng với kê huyết thạch: vệt đỏ trên nền đá như máu gà |
| Ba Lâm | Vùng Ba Lâm, Nội Mông | Mềm, mịn, nhiều màu; cũng có đá có vệt đỏ |
Ngoài bốn loại trên còn nhiều loại đá khắc dấu khác ở Trung Hoa và ở các nước. Nhật Bản, Hàn Quốc cũng dùng nhiều chất liệu khác cho con dấu như gỗ, sừng, kim loại.
Kê huyết thạch: đẹp nhưng cần cẩn thận
Màu đỏ của kê huyết thạch đến từ thần sa, tức cinnabar, là thuỷ ngân sunfua. Ở dạng đá liền, nó khá ổn định. Nhưng thuỷ ngân là chất độc, nên có vài điều nên nhớ:
- Không mài, chà khô đá có vệt đỏ để bụi bay lên. Nếu phải mài mặt, mài ướt trên giấy nhám đặt trên kính, lau sạch nước mài bằng giấy ẩm rồi bỏ đi.
- Không hơ nóng, không để gần lửa: nhiệt có thể giải phóng hơi thuỷ ngân.
- Rửa tay sau khi cầm đá lâu hoặc sau khi khắc. Không để trẻ nhỏ ngậm, chơi.
- Người mới tập không cần đá có vệt đỏ. Dùng đá tập mịn thông thường.
Mài khắc đá nói chung cũng sinh bụi. Đừng thổi bụi đá bằng miệng; dùng chổi lông mềm quét đi. Nếu mài nhiều, mài ướt và đeo khẩu trang lọc bụi.
Chọn một viên đá tập
Đá tập không cần đẹp. Cần đúng bốn điều:
- Không nứt: nhúng đá vào nước hoặc lau ướt, những vết nứt sẽ hiện rõ thành đường sẫm. Đá nứt dễ vỡ khi khắc, vỡ ngay giữa nét.
- Không có hạt cứng: nhiều viên đá có lẫn hạt cát cứng, giới khắc gọi là "đinh cát". Dao chạm vào sẽ trượt, mẻ lưỡi hoặc làm vỡ cả mảng. Khi khắc thử thấy lưỡi bị vấp, đó là dấu hiệu.
- Đồng chất: đá mềm đều từ trên xuống dưới. Đá chỗ mềm chỗ cứng làm nét lúc sâu lúc nông.
- Cỡ vừa tay: mặt dấu khoảng 2–2,5 cm cho buổi đầu. Nhỏ quá khó bố cục, to quá mất nhiều công khắc nền.
Đá bán sẵn thường có lớp sáp hoặc dầu bên ngoài cho bóng màu. Trước khi khắc phải mài bỏ mặt dấu cho tới lớp đá sạch.
Đá thật, đá xử lý và đá giả
Đá khắc dấu đẹp có giá trị sưu tầm, nên đá xử lý và đá giả nhiều. Có đá được nhuộm màu, đá được ngâm nhựa cho trong, đá ghép từ nhiều mảnh, và cả "đá" làm từ bột đá trộn nhựa. Kê huyết thạch là loại hay bị làm giả nhất. Bài này không dạy giám định, vì phân biệt nhiều trường hợp cần kinh nghiệm và thiết bị. Lời khuyên an toàn nhất cho người mới: học bằng đá tập rẻ, đừng mua đá đắt khi chưa có người am hiểu đi cùng; khi mua, hỏi trực tiếp nhiều nơi.
Giữ đá khắc dấu
- Tránh nắng gắt và nhiệt độ thay đổi đột ngột: đá có thể nứt, phai màu.
- Nhiều người chơi lau một lớp dầu thật mỏng cho đá Thọ Sơn để giữ độ bóng và độ ẩm; với từng loại đá, hỏi người am hiểu trước khi bôi dầu.
- Để đá trong hộp lót vải, mỗi viên một ngăn, không cho chạm nhau.
- Lau mặt dấu sạch son sau mỗi lần đóng bằng giấy mềm; son khô lâu ngày bám vào nét rất khó lấy.
Đá khắc dấu còn là tượng nhỏ
Một viên đá khắc dấu có hai đầu. Đầu dưới là mặt dấu, để khắc chữ. Đầu trên có thể để trơn, hoặc chạm thành núm: một con lân, con sư tử, một cành mai, một con thú nằm. Ở Phúc Châu, nơi có đá Thọ Sơn, nghề chạm đá thành núm ấn và tượng nhỏ là một nghề riêng, lâu đời, với những người thợ chỉ chạm núm mà không khắc chữ.
Người chạm núm đọc đá như người chạm gỗ đọc thớ: chỗ màu đẹp nhất được giữ cho phần nổi bật, vệt đỏ hay vệt vàng được biến thành bộ lông, ngọn lửa, cánh hoa. Vì thế khi mua một viên đá có núm chạm, đừng chỉ nhìn mặt dấu; hãy nhìn cách người thợ tận dụng vân đá. Còn khi tự khắc dấu, nên chọn đá có núm trơn, để tay cầm chắc và đặt vào kẹp dễ dàng.
Góc nhìn hôm nay: đọc một viên đá trước khi khắc
Đây là sợi chỉ chung của mọi nghề chạm: nhát đã khắc không lấy lại được, nên phải đọc chất liệu trước. Với một viên đá mới, hãy làm ba việc: lau ướt để tìm vết nứt; khắc thử vài đường ở mặt bên để cảm độ mềm và tìm hạt cứng; soi mặt dấu dưới đèn để thấy các vân. Nếu có vết nứt chạy qua mặt dấu, mài bớt hoặc xoay bố cục để vết nứt rơi vào khoảng nền, không cắt ngang chữ.
Muốn xem đá khắc dấu đẹp tận mắt, các bảo tàng có sưu tập văn phòng tứ bảo và ấn chương là nơi đáng đến. Tây Linh ấn xã ở Hàng Châu có bảo tàng về ấn chương, nếu có dịp đi Chiết Giang.
Câu hỏi thường gặp
Đá khắc dấu là đá gì?
Là các loại đá mềm, mịn như diệp lạp thạch, dickite, kaolinite, độ cứng thang Mohs thường quanh 2–3. Chúng đủ mềm để khắc bằng dao tay mà vẫn giữ được nét sắc.
Tứ đại ấn thạch gồm những loại nào?
Thường kể là đá Thọ Sơn ở Phúc Kiến, đá Thanh Điền ở Chiết Giang, đá Xương Hoá (kê huyết thạch) ở Chiết Giang và đá Ba Lâm ở Nội Mông. Một số tài liệu xếp khác.
Kê huyết thạch có độc không?
Màu đỏ của kê huyết thạch là thần sa, tức thuỷ ngân sunfua. Ở dạng đá liền nó khá ổn định, nhưng không nên mài khô cho bụi bay, không hơ nóng, và nên rửa tay sau khi khắc.
Người mới tập khắc dấu nên dùng đá gì?
Nên dùng đá tập loại Thanh Điền hoặc tương tự: mịn, không nứt, không có hạt cứng, mặt khoảng 2–2,5 cm. Không cần đá đẹp hay đá quý cho giai đoạn học.
Làm sao biết đá khắc dấu có bị nứt?
Lau ướt hoặc nhúng đá vào nước. Vết nứt sẽ hiện thành đường sẫm rõ hơn khi đá khô. Đá có vết nứt qua mặt dấu dễ vỡ khi khắc.